(Trích từ Gia phả do ông Viễn Đông sưu lục)
ĐỨC ÔNG ĐỊNH VIỄN QUẬN VƯƠNG
Đức ông huý là Nguyễn Phúc Bính (阮 福 昞), hoàng tử thứ 6 của Hoàng đế GIA LONG (và Tiệp Dư Dương Thị Sự).
Ngài còn có tên tự là HÚC (旭), sinh giờ Giáp Dần Đinh Mão ngày 16 Canh Thân, tháng Bảy năm Đinh Tỵ (06.9.1797), mất giờ Đinh Mùi Bính Thân ngày 03 tháng Bảy năm Quý Hợi (16.8.1863), hưởng thọ 67 tuổi.
Năm đó vào giờ Canh Dần Tân Tỵ, ngày 18, tháng Mười Hai (24.01.1864), ngài được an táng tại vùng đất bồi xứ Bàu Thống, xã Nguyệt Biều, toạ Tốn hướng Càn kiêm Tỵ Hợi.
Ngài được truy tặng là Định Viễn Quận vương (定 遠 郡 王), thuỵ Đôn Lượng (敦 諒).
Hậu duệ của Ngài Định Viễn được vua Minh Mạng ban bài Phiên hệ thi như sau:
Tịnh (靖) Hoài (懷) Chiêm (瞻) Viễn (遠) Ái (愛)
Cảnh (景) Ngưỡng (仰) Mậu (茂) Thanh (聲/淸) Kha (珂)/ Ba (葩)*
Nghiễm (儼) Khác (恪) Do (由) Trọng (仲) Đạt (達)
Liên (連) Trung (忠) Tập (集) Cát (吉) Đa (多).
* Theo gia phả của phòng Đinh Viễn nên có chút sai khác với các nguồn tư liệu khác.
Lúc sinh thời, Ngài lập nghiệp ở làng Tây Thượng, xã Phú Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ngài nổi tiếng là người năng nổ kinh doanh, liên tục thu lợi nhuận hậu hĩnh. Gần bến đò chợ Dinh, Ngài cho lập những dãy kho hàng để lưu trữ các hàng hoá đủ loại của các ghe mành từ các địa phương khác chuyển đến, kể cả từ Trung Hoa hay Nhật Bản. Các thương gia đến mua sỉ theo thuỷ lộ khiến bến đò Chợ Dinh trở thành một khu vực thương mại phồn thịnh, tiệm hàng quán ăn, rạp hát ... cả một khu tấp nập trên bến dưới thuyền. Vì thế, Ngài trở nên giàu có đến mức vua anh Minh Mạng phải khen ngợi rằng: “Phú bất như/ ư Định Viễn”
Là người đam mê nghệ thuật hát bội, sẵn với nguồn tiền phong phú của mình, Quận vương Bính còn cho lập nhiều đoàn hát phục vụ trong phủ riêng và cho dân chúng cùng xem. Ngài còn cho dựng một phiên chợ đặc biệt vào ba ngày Tết Nguyên Đán, đó là chợ Gia Lạc (nghĩa là tăng thêm niềm vui) với hàng loạt những trò chơi thú vị dành cho các hoàng thân công chúa và quan lại.
Tẩm mộ của Ngài hiện vẫn ở tại xứ Bàu Thống, làng Nguyệt Biều, phường Thuỷ Biều, thành phố Huế. Năm 2005, lăng Ngài Định Viễn Quận Vương đã được con cháu trùng tu lại rất trang nghiêm.
Phủ thờ của phòng Định Viễn hiện ở làng Tây Thượng, gần chợ Nam Phổ, Phú Vang, Thành phố Huế. Qua các biến cố phủ thờ đã bị hư hại khá nhiều. Năm 2010, phòng Định Viễn Quận Vương đã tổ chức lễ Khánh thành trùng tu tôn tạo cổng, bình phong và phủ thờ rất long trọng.
Ở cổng phủ có câu đối như sau:
Nam quốc vương triều phong Định Viễn
南 國 王 朝 封 定 遠,
Bắc hà ngự giá tứ Thân Thần.
北 河 御 駕 賜 親 臣
Dịch nghĩa:
Vương triều Việt Nam phong cho ngài tước Định Viễn.
Theo vua Thiệu Trị ra Bắc được sung chức Thân Thần.
* Chú thích:
Năm Gia Long thứ 16 (1817), hoàng tử Bính được phong làm Định Viễn công (定 遠 公). Vào năm Tự Đức thứ 16 (1863),
Ngài mất, vua nghe tin thì thương tiếc, nghỉ chầu 3 ngày, truy tặng cho ông làm Định Viễn Quận vương (定 遠 郡 王),
Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844), Định Viễn công theo vua ngự giá Bắc tuần, được sung chức Ngự tiền Thân thần.
a. Thê thiếp:
1. Trưởng Thị cơ/ Nguyên cơ Phùng Thị Tú (馮 氏 琇) tự Thận (慎), thuỵ Nguyên Như phu nhân (原 如 夫 人).
Bà sinh giờ Kỷ Mùi Ất Hợi, ngày 08 tháng Ba năm Ất Mão (1795), mất giờ Bính Dần ngày 01 tháng Mười năm Ất Dậu (1825), hưởng thọ 31 tuổi. Bà được an táng tại Bàu Thống, xã Thuỷ Biều, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên,
Bà là con gái đầu của ông Phùng Bá Can, người ở trang Đông Đô, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thánh Hoá.
2. Đệ nhất phủ thiếp Trần Thị Hiếu (陳 氏 孝), tự Mao (旄), thuỵ Từ Thuận (慈 順).
Bà sinh không rõ ngày tháng Mười năm Nhâm Tý (1792), hưởng thọ 21 tuổi, mất ngày 05 tháng Hai năm Nhâm Thân (1812). Bà được an táng xứ Bàu Quau, làng Dương Xuân thượng, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên. Mộ toạ Tốn hướng Càn kiêm Tỵ Hợi, phân kim Canh Tuất Canh Thìn.
3. Đệ nhị phủ thiếp Tăng Thị Tấn.
4. Bà ....
5. Bà Nguyễn Thị Đàng
6. Bà ...
7. Bà ....
8. Bà ...
9. Bà ....
10. Bà ...
11. Bà Dưỡng mẫu phủ thiếp Nguyễn Thị Nguỵ (阮 氏 魏) tự Hoà (和) thuỵ Mỹ Bang (美邦).
Bà Nguỵ sinh tháng Mười năm Nhâm Tý (1792), mất giờ Kỷ Hợi ngày 18 tháng 02 năm Nhâm Thìn (1832), hưởng thọ 41 tuổi.
Bà được an táng tại phường Tây Thượng, làng Dương Nỗ, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên.
Bà là con gái trưởng của ông Nguyễn Văn Ân, người làng Lưu Khánh, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên.
12. Bà Nguyễn Hữu Thị Thư
13. Bà ...
14. Bà ....
15. Bà ....
Và một số phủ thiếp khác chưa sưu lục được.
b. Con cái: Ngài có tất cả 73 người con: 42 con trai và 31 con gái.
- Công tử:
1. Bái Trạch Đình hầu Tịnh Cơ, con bà Tú.
2. Tịnh Cận/ Cường, con bà Tú.
3. Phụng Quốc khanh Tịnh Phường
4. Tịnh Phản, con bà Tấn, mất năm 04 tuổi.
5. Không rõ tên.
6. Không rõ tên.
7. Tịnh Phong
8. Không rõ tên.
9. Phụng Quốc khanh Tịnh Long
10.Thượng thư Lễ bộ Tịnh Thuật
11. Tịnh Phụ, con bà Tấn.
12. Từ công tử này cho đến công tử thứ 21 không rõ tên.
22. Tịnh Đổ, con bà Đàng.
23. Tịnh Đống.
24. Tịnh Kỳ.
25. Tịnh Dõng
26. Không rõ tên.
27. Tịnh Hiên
28. Không rõ tên.
29. Hữu vị vô danh
30. Tịnh Đoan
31. Không rõ tên.
32. Không rõ tên.
33. Tịnh Huân
34. Không rõ tên.
35. Không rõ tên.
36. Không rõ tên.
37. Hàn Lâm viện Thị Giảng Tịnh Bình, con bà Hiếu.
38. Tịnh Quy, con bà Thư, mẹ của Công tôn Hoài Trấp, tức Hoà thượng Viên Thành, người khai sơn chùa Tra Am, Huế.
39. Tịnh Tỷ
40. Tảo thương. Vô tự.
41. Tảo thương. Vô tự.
42. Tịnh Quân
- Công nữ: Chỉ có vài thông tin như sau:
10. Công nữ Thị Dũ/ Truy
Bà Dũ sinh giờ Đinh Dậu Canh Tý, ngày 23 tháng Tám năm Nhâm Thìn (1892), mất giờ Bính Tý ngày 04 tháng Mười Một, không rõ năm.
Bà được an táng tại làng Nguyệt Biều, xã Thuỷ Biều, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
16. Công nữ Thị Toàn/ Thuyên
Bà Toàn sinh giờ Tỵ ngày 10 tháng Ba năm Ất Mùi (1895), mất giờ Quý Sửu ngày 09 tháng Mười năm Đinh Dậu (1897) lúc 03 tuổi.
Bà được an táng tại làng Nguyệt Biều, xã Thuỷ Biều, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
23. Công nữ Thị Tân (đọc theo âm chữ 莘)
Bà Tân sinh giờ Mậu Tuất Kỷ Mão, ngày 09 tháng Năm năm Canh Tý (1900), em cùng một mẹ với bà Truy. Bà lấy chồng là ông Nguyễn Văn Quý. Bà mất giờ Mậu Dần Kỷ Mùi ngày 12 tháng Chín, năm Kỷ Mùi (1919), thọ 20 tuổi.
Bà được an táng tại làng Nguyệt Biều, xã Thuỷ Biều, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
* Ghi chú: Tên hai công nữ này ghi theo gia phả của Chi 37. Gia phả chữ Hán thì ghi là Dũ và Toàn.
- Bà Dũ nên đọc là Truy (鍿), nhưng bộ Y (衣) không phải bộ Kim (金).
Bà Toàn nên đọc là (忄+全) Thuyên.