PHỤNG THÀNH ĐẠI PHU HÀN LÂM VIỆN THỊ GIẢNG TỊNH BÌNH (靖 坪).
Ông Bình là con bà Đệ nhất phủ thiếp Trần Thị Hiếu. Ông tự Như Hoành (如 衡) thuỵ Ôn Xác (温 壳). Năm Bảo Đại thứ 9 (1934) tháng Sáu, ông được sắc tặng là Phụng Thành Đại phu Hàn Lâm viện Thị Giảng thuỵ Đoan Thận. (1851), thọ 62 tuổi, mất vào giờ Quý Tỵ ngày 09 tháng Chín năm Nhâm Tý (1912). Ông được an táng tại phường Tây Thượng làng Dương Nỗ vào ngày 24 tháng này.
Năm Đinh Sửu (1937) giờ Dần ngày 6 tháng Bảy ông được cải táng về tại xứ Bàu Quau (Cầu Lim), làng Dương Xuân thượng, huyện Hương Thuỷ (hiện nay là thôn Thượng Hai, phường Trường An, Thành phố Huế).
Mộ ông toạ Cấn hướng Khôn kiêm Dần Thân, phân châm Tân Sửu Tân Mùi.
- Chánh thất: Quận quân Lê Thị huý Lan hiệu Từ Tuệ thuỵ An Nhơn đệ nhất nương. Bà sinh ngày 01 tháng Tám năm Tân Hợi (1851), mất giờ Mùi ngày 04 tháng Sáu năm Giáp Tuất (1934).
Năm Bảo Đại thứ 9 (1934) tháng Sáu ngày 14. bà được sắc phong là Ngũ phẩm Nghi nhân.
Sau khi mất, bà được an táng tại xứ Bàu Quau (Cầu Lim), làng Dương Xuân thượng, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên (nay là phường Trường An, Thành phố Huế). Về sau bà được cải táng về Ngũ Tây.
Mộ bà toạ Khôn hướng Cấn kiêm Mùi Sửu, phân kim Đinh Sửu Đinh Mùi.
Bà là con gái trưởng của ông Tú tài Lê Mậu Sự, người ấp Doanh Thị hạ, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà.
- Thứ thất: Nguyễn Đình Thị huý Hợi, hiệu Phước Đình (福 亭) thuỵ Thuần Thục (純 淑), sinh giờ Tuất ngày ... năm Quý Hợi (1863), và là con gái thứ của Thượng thư Nguyễn Đình Tuân, người làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên.
Bà mất ngày 20 tháng Năm, năm Nhâm Tuất (1922) hưởng thọ 60 tuổi, được an táng tại Bàu Quau (Cầu Lim), làng Dương Xuân thượng, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên, cùng hướng với bà chánh thất.
- Kế thất: Nguyễn Văn Thị Nguỵ, Nguyễn Thị Bài. (Theo gia phả Chi 37)
Ông Bình sinh hạ 06 con trai, 03 Vô danh và 02 con gái: